Granada thất thủ khi nào? Thỏa thuận 1491 và bàn giao 1492

Granada thất thủ khi nào? Thỏa thuận 1491 và bàn giao 1492

Muslim Post Editorial Desk@muslimpost

Granada được bàn giao ngày 2/1/1492. Tìm hiểu thỏa thuận năm 1491, cách ghi năm trong văn bản xác nhận, bảo đảm cho cư dân và những thay đổi về sau.

Granada được bàn giao cho Ferdinand xứ Aragon và Isabella xứ Castile vào ngày 2 tháng 1 năm 1492. Muhammad XII, được các nguồn tiếng Tây Ban Nha gọi là Boabdil, giao Alhambra và thành phố. Những điều khoản quy định việc chuyển giao đã được thống nhất trước đó, vào ngày 25 tháng 11 năm 1491. Ngày thỏa thuận và ngày tiếp quản quyền lực là hai mốc khác nhau. Hồ sơ một bản sao tại Thư viện Quốc gia Tây Ban Nha và phân tích văn bản đăng trên Gaceta de Madrid năm 1864 giúp nhận ra sự khác biệt này.

Việc bàn giao chấm dứt chủ quyền độc lập của vương quốc Nasrid. Tuy nhiên, cư dân Hồi giáo không biến mất khỏi Granada hoặc bán đảo Iberia ngay hôm đó. Nhiều người ban đầu ở lại với một số bảo đảm về tôn giáo và pháp luật; vị thế của họ thay đổi trong những năm tiếp theo qua sức ép cải đạo và việc tổ chức lại các thiết chế. Các niên đại dưới đây dùng năm Công nguyên, đồng thời tách sự kết thúc của một nhà nước khỏi lịch sử tiếp tục của dân cư.

Những mốc chính và vấn đề năm trong văn bản tháng 12

Niên đại Sự kiện Ý nghĩa
1482–1492 Chiến tranh Granada diễn ra qua nhiều chiến dịch. Việc giao thủ đô kết thúc một cuộc chiến kéo dài; mọi địa phương không đổi chủ cùng một ngày.
25/11/1491 Các điều khoản đầu hàng được thống nhất. Thỏa thuận quy định việc bàn giao và vị thế ban đầu của cư dân.
30/12/1491 theo cách bắt đầu năm hiện nay Các điều khoản được xác nhận. Văn bản được phân tích ghi năm 1492 vì dùng cách tính năm mới từ lễ Giáng sinh.
2/1/1492 Granada và Alhambra được bàn giao. Chủ quyền Nasrid tại thủ đô chấm dứt.
1499–1501 Sức ép tôn giáo, bất ổn và rửa tội hàng loạt làm thay đổi thỏa thuận. Những bảo đảm ban đầu và vị thế pháp lý của các cộng đồng bị biến đổi.
1502 Kitô giáo trở thành tôn giáo hợp pháp duy nhất ở Castile. Đây là biện pháp rộng hơn, được áp dụng sau việc giao thủ đô.

Văn bản xác nhận tháng 12 cần được giải thích riêng. Phân tích trên Gaceta nêu ngày “30 tháng 12 năm 1492” theo lối ghi năm bắt đầu vào ngày 25 tháng 12. Nếu bắt đầu năm vào tháng 1 như hiện nay, đó là 30 tháng 12 năm 1491, trước cuộc bàn giao ba ngày. Điều chỉnh nằm ở ranh giới bắt đầu năm, không phải phép đổi một ngày từ lịch Julius sang lịch Gregory.

Nếu bỏ qua điểm này, người đọc có thể tưởng việc xác nhận diễn ra gần một năm sau khi giao thành phố. Trình tự được văn bản giải thích là: thỏa thuận tháng 11, xác nhận cuối tháng 12, rồi bàn giao ngày 2 tháng 1. Khi một nguồn nói Granada “thất thủ năm 1491” hoặc “thất thủ năm 1492”, cần hỏi nguồn đang nói về thỏa thuận hay việc tiếp quản. Gắn ngày với tên sự kiện sẽ rõ hơn chỉ đưa ra một năm đứng riêng.

Vương quốc Nasrid trước năm 1492 là gì?

Triều Nasrid cai trị Granada từ thế kỷ XIII. Lãnh thổ và khả năng hành động của triều đình thay đổi theo thời gian; quan hệ với các nhà cai trị Kitô giáo gồm cống nạp, ngoại giao và xung đột. Khảo cứu nghệ thuật Nasrid của Metropolitan Museum of Art đặt vương triều trong một môi trường chính trị khó khăn, đồng thời trình bày nghề thủ công, học thuật và văn hóa cung đình. Alhambra là một đô thị cung điện, không chỉ là tòa nhà dành cho lễ giao chìa khóa.

Một nhà nước kết thúc kéo theo thay đổi ở thủ đô, vùng nông thôn, công sự, nguồn thu, cơ quan pháp lý và các hộ dân. Chiến tranh 1482–1492 tiến triển qua những địa bàn khác nhau; nhiều nơi đã đổi chủ trước khi thủ đô được bàn giao. Vì vậy, không nên hình dung cả thập niên như một cuộc vây hãm duy nhất quanh Alhambra, hoặc xem ngày 2 tháng 1 là lúc mọi nơi trong vương quốc cùng chuyển quyền cai trị.

Những truyền thống cung đình trước đó cũng cần được đặt đúng thế kỷ. Các hộp ngà voi từ môi trường cung đình Córdoba thuộc bối cảnh Umayyad thế kỷ X, khác với Granada cuối thế kỷ XV. Có thể so sánh cách bảo trợ nghệ thuật, nhưng không được biến các hộp ấy thành đồ vật của cuộc bàn giao Nasrid. Cùng thuộc lịch sử al-Andalus không chứng minh các hiện vật ra đời tại cùng một xưởng hoặc được dùng trong cùng một sự kiện.

Ai thỏa thuận việc đầu hàng, và chúng ta đang đọc loại văn bản nào?

Các điều khoản Granada là những điều kiện được thương lượng để giao thành phố cho các Quân chủ Công giáo. Hồ sơ của Thư viện Quốc gia Tây Ban Nha nêu các quân chủ và Bulcacín el Muleh, đại diện phía nhà cai trị Granada. Bản chép và phân tích về sau trên Gaceta còn nhắc Iucaf Aben Comija. Cách viết tên thay đổi giữa những bản phiên chép; vai trò đại diện là điều cần giữ, thay vì bổ sung một danh tính hoặc lời nói không được chứng thực.

Hiện vật mang ký hiệu MSS/18631/38 tại thư viện là bản sao thuộc thế kỷ XVI. Hồ sơ ghi năm tờ và kích thước khoảng 31 × 22 cm. Các chi tiết này giúp nhận diện hiện vật được lập danh mục. Chúng không biến bản sao thành lời chứng tận mắt về lễ bàn giao, cũng không cho phép coi phần mô tả thư mục là toàn văn mọi điều khoản. Bản gốc, bản sao về sau và hồ sơ mô tả bản sao là những lớp tư liệu khác nhau.

Gaceta de Madrid ngày 13 tháng 8 năm 1864 cung cấp phiên chép và phân tích lịch sử về sau. Tư liệu đó hữu ích để hiểu chuỗi ngày tháng, nhưng không phải biên bản lập trong buổi lễ năm 1492. Khi sử dụng nguồn, cần hỏi nó có niên đại nào, dựa vào văn bản nào và đang xác định ngày của sự kiện nào. Một bức tranh hoặc câu chuyện phổ biến lại cần chứng cứ riêng cho những chi tiết thêm vào.

Hướng dẫn nhận biết các truyền thống thư pháp giúp tách kiểu chữ khỏi ngôn ngữ và nội dung. Nhận ra hình dáng chữ không đủ để dịch một câu chưa đọc, cũng như nhận ra tên một thỏa thuận không đủ xác định toàn bộ điều khoản. Muốn khẳng định một cam kết cụ thể, phải có văn bản hoặc khảo cứu đáng tin cậy về cam kết đó.

Điều gì thay đổi ngày 2 tháng 1 năm 1492?

Chủ quyền đối với Granada chuyển sang Ferdinand và Isabella; Muhammad XII rời thành phố. Phân tích văn bản trên Gaceta xác định việc bàn giao vào ngày 2 tháng 1. Cơ quan quản lý Alhambra trình bày thỏa thuận năm 1491 như bước quyết định dẫn đến việc chuyển giao và những thay đổi kiến trúc, hành chính về sau. Điểm chắc chắn là sự tiếp quản theo một thỏa thuận đã có trước đó.

Ngày chuyển quyền không tự chứng minh mọi chi tiết trong các tranh vẽ hoặc chuyện kể sau này. Một cử chỉ, bài diễn văn hay tuyến đường cụ thể đều cần nguồn riêng. Biết nhà nước kết thúc ngày nào cũng không cho biết Muhammad XII đến Bắc Phi vào đúng ngày đó. Không nên thêm hành trình cùng ngày chỉ để khiến câu chuyện có vẻ liền mạch hơn.

Đô thị cung điện có nhà ở, xưởng, đường đi và công trình tôn giáo. Một số biến đổi hoặc mất đi, một số chỉ còn dấu vết khảo cổ. Một sân trong còn tồn tại hôm nay vì thế không thể đại diện cho toàn bộ diện mạo tháng 1 năm 1492. Công năng, quyền sở hữu và vị trí trong bộ máy cai trị có thể thay đổi ngay cả khi vật liệu xây dựng vẫn còn.

Cuộc bàn giao kết thúc vương quốc độc lập cuối cùng trên bán đảo Iberia do người Hồi giáo cai trị. Nó không chấm dứt ngay sự hiện diện của người Hồi giáo, chữ Ả Rập hoặc các thực hành văn hóa Andalusia. Mốc chính trị của một nhà nước và lịch sử lâu dài của cư dân trả lời hai câu hỏi khác nhau.

Cư dân Hồi giáo ban đầu được bảo đảm điều gì?

Các điều khoản tạo khuôn khổ để cư dân Hồi giáo có thể ở lại sau khi chủ quyền Nasrid chấm dứt. Chương “The Burning Temple” của Cambridge University Press mô tả những bảo đảm về tôn giáo, pháp luật và việc duy trì các aljamas địa phương. Các thiết chế cộng đồng này có chức năng liên quan đến tư pháp và thuế. Chính quyền mới cần những công việc ấy tiếp tục vận hành để cai trị dân cư.

Không thể từ khuôn khổ đó suy ra mọi điều khoản được áp dụng giống nhau ở mọi nơi. Lời hứa trong thỏa thuận cho biết người cai trị cam kết gì; hồ sơ quản lý, tranh chấp và cải đạo cho biết điều gì xảy ra sau đó. Việc bảo tồn một số thiết chế cũng không chứng minh đã xuất hiện bình đẳng hoàn toàn. Thỏa thuận hình thành sau chinh phục trong một quan hệ quyền lực bất cân xứng.

Một số người trong giới cai trị cũ rời sang Bắc Phi, trong khi nhiều cư dân khác ở lại. Mudéjar thường chỉ người vẫn là tín đồ Hồi giáo dưới chủ quyền Kitô giáo; tên gọi ấy không có nghĩa họ đã cải đạo. Morisco được dùng về sau cho những người gốc Hồi giáo được rửa tội và con cháu của họ dưới chế độ Kitô giáo. Gộp hai tên gọi sẽ khiến cải đạo cưỡng bức có vẻ xảy ra ngay lúc giao thành phố.

Một nhãn pháp lý hoặc lễ rửa tội cũng không tự cho biết niềm tin bên trong của từng người. Hồ sơ chính quyền, hành vi được ghi nhận và tín ngưỡng cá nhân không phải cùng một loại chứng cứ. Cần xác định khi nào và trong điều kiện nào cư dân được đưa vào một vị thế pháp lý mới trước khi diễn giải rộng hơn về đời sống của họ.

Các bảo đảm thay đổi thế nào trong giai đoạn 1499–1502?

Hernando de Talavera, tổng giám mục đầu tiên của Granada, theo đuổi chương trình truyền giáo dần dần. Hồng y Francisco Jiménez de Cisneros sau đó thúc đẩy cách tiếp cận mạnh tay hơn. Chương Cambridge liên hệ việc bắt giữ các thủ lĩnh Hồi giáo và bất ổn năm 1499 với rửa tội hàng loạt cùng sức ép cải đạo hoặc rời đi. Đó là một quá trình có nhân vật, quyết định và giai đoạn, không phải một điều khoản được thi hành ngay ngày 2 tháng 1 năm 1492.

Nói chung rằng “khoan dung chấm dứt” chưa mô tả được những hậu quả cụ thể. Nghiên cứu Cambridge năm 2024 về tài sản chuyển cho nhà thờ sau chinh phục đặt việc cải đạo và phân loại cư dân Granada thành Moriscos trong bối cảnh năm 1501. Các habices, tài sản hiến tặng từng hỗ trợ thiết chế tôn giáo và từ thiện Hồi giáo, cho thấy một hệ quả vật chất của sự thay đổi.

Khảo cứu về Alpujarras theo dõi việc những tài sản ấy về sau chuyển sang các giáo xứ Kitô giáo hoặc cơ quan khác. Đây là chứng cứ địa phương, không phải lời khẳng định rằng mọi người và mọi tài sản trên bán đảo đổi vị thế trong cùng một ngày. Cải đạo, đặt tên pháp lý và tổ chức lại tài sản có liên hệ nhưng là những việc riêng, cần được đọc qua hồ sơ phù hợp.

Đến năm 1502, Kitô giáo trở thành tôn giáo hợp pháp duy nhất ở Castile, theo chương Cambridge. Phạm vi Castile phải được giữ rõ: biện pháp đó không có nghĩa mọi vương quốc ở Tây Ban Nha cùng thay đổi pháp luật lúc ấy. Đọc lần lượt cuộc bàn giao 1492, khủng hoảng 1499, biến đổi khoảng 1501 và biện pháp 1502 giúp thấy các bảo đảm ban đầu bị thay thế như thế nào.

Alhambra hôm nay cho biết gì về năm 1492?

Hồ sơ UNESCO về Alhambra, Generalife và Albayzín phân biệt đô thị cung điện, các khu vườn và khu dân cư. Các dấu tích Nasrid cùng tồn tại với những bổ sung, cải biến thời Kitô giáo. Vật liệu kiến trúc được giữ lại và công năng thay đổi có thể xảy ra đồng thời. Sự liên tục của một bức tường không chứng minh sự liên tục nguyên vẹn của một thiết chế.

Cơ quan Alhambra lưu ý nhiều nhà ở, xưởng và đường đi đã mất hoặc biến đổi. Các nhà nghiên cứu không thể tái dựng chắc chắn mọi phần diện mạo năm 1492. Tư liệu di sản giúp xác định cái gì còn lại và cái gì được phục dựng; văn bản pháp lý, hành chính vẫn cần thiết để hiểu việc chuyển quyền và thi hành các cam kết.

Hướng dẫn đọc hoa văn arabesque tách dây cuốn thực vật khỏi hình học, thư pháp và hình tượng. Những dạng đó có thể kết hợp trên cùng một bề mặt. Nhận diện một dạng trang trí không tự xác định tuổi, tên người thợ hoặc quan hệ của nó với lễ bàn giao.

Bài viết về khảm gốm cắt zellij giúp đọc mảnh gốm, mạch ghép và vật liệu thêm về sau. Những bản mô phỏng thạch cao thế kỷ XIX tại Sala de los Reyes khác với gốm tráng men nguyên gốc. Hoa văn giống nhau không đồng nghĩa vật liệu hoặc niên đại giống nhau. Vì vậy, Alhambra hiện tại không phải bức ảnh nguyên vẹn của thành phố vào tháng 1 năm 1492.

Các điều khoản Granada có phải là thỏa thuận Santa Fe?

Không. Các điều khoản ngày 25 tháng 11 năm 1491 liên quan đến Muhammad XII, việc giao Granada và vị thế ban đầu của cư dân. Các điều khoản Santa Fe ngày 17 tháng 4 năm 1492 liên quan đến thỏa thuận của triều đình với Christopher Columbus cho một chuyến đi Đại Tây Dương. Bộ Văn hóa Tây Ban Nha giải thích văn bản thứ hai trong bối cảnh riêng.

Từ tiếng Tây Ban Nha capitulaciones chỉ các điều khoản đã thương lượng. Việc cùng dùng một từ không khiến hai văn bản có cùng đối tượng hoặc mục đích. Không thể lấy thỏa thuận về chuyến đi của Columbus làm bằng chứng cho các cam kết đối với cư dân Hồi giáo ở Granada. Cần xác định ngày, các bên và nội dung của từng văn bản.

Sắc lệnh trục xuất người Do Thái cũng thuộc năm 1492 nhưng là một chính sách riêng với đối tượng pháp lý và lịch trình riêng. Có thể so sánh những diễn biến đó trong sự thay đổi của chế độ quân chủ. Tuy nhiên, gộp cư dân Hồi giáo, cộng đồng Do Thái và chuyến đi Đại Tây Dương vào một thỏa thuận sẽ làm sai cả ba câu chuyện. Một năm chung không đồng nghĩa một văn bản chung.

Câu trả lời ngắn gọn vì thế phải giữ loại sự kiện: điều khoản được thống nhất tháng 11 năm 1491, được xác nhận cuối tháng 12, và thành phố được bàn giao ngày 2 tháng 1 năm 1492. Chủ quyền độc lập kết thúc hôm ấy; lịch sử cư dân tiếp tục qua những bảo đảm ban đầu và các thay đổi cưỡng ép về sau.

Nguồn